Kết quả nổi bật dễ nhìn thấy nhất là thị trường ngoại tệ tự do đã bị thu
hẹp đáng kể, không còn sôi động, thậm chí hỗn loạn vì những cơn sốt tỷ
giá như trước.
Kế quả nổi bật Kết
quả nổi bật dễ nhìn thấy nhất là thị trường ngoại tệ tự do đã bị thu
hẹp đáng kể, không còn sôi động, thậm chí hỗn loạn vì những cơn sốt tỷ
giá như trước. Cùng với sự giảm nhiệt của giao dịch, tỷ giá giao dịch
cũng được dần dần hạ xuống. Bắt đầu từ sự giảm xuống của tỷ giá trên thị
trường tự do, làm cho chênh lệch tỷ giá giữa thị trường này so với thị
trường chính thức từ mức cao ngất ngưởng (có lúc đã lên đến gần 2.000
VND/USD), giảm dần xuống, thậm chí có thời điểm còn thấp hơn cả thị
trường chính thức- một hiện tượng hiếm thấy trong nhiều năm qua.
Trên
thị trường chính thức, tỷ giá giao dịch thực tế thường chưa sử dụng hết
biên độ giao dịch theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (±1% so với tỷ
giá trên thị trường liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố); xen
kẽ những ngày tăng đã có nhiều ngày đứng và nhiều ngày giảm- điều hiếm
thấy trước đây- và mức giảm lớn nhất so với tỷ giá sau ngày điều chỉnh
tăng 11/2 có lúc lên đến 280 VND/USD.
Các doanh
nghiệp và người dân đã bắt đầu bán ngoại tệ cho ngân hàng; bước đầu
chuyển dần việc gửi/vay ngoại tệ sang mua/bán đứt đoạn ngoại tệ với ngân
hàng; việc niêm yết giá thanh toán, mua bán trực tiếp bằng ngoại tệ đã
được thu hẹp và trở lại theo quy định.
Khi
thị trường tự do bị thu hẹp, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do
và thị trường chính thức giảm thiểu, tỷ giá cơ bản ổn định và có xu
hướng giảm, đã tạo thời cơ để Ngân hàng Nhà nước mua vào ngoại tệ ròng
từ đầu năm đến đầu tháng 5 là 877 triệu USD, riêng tháng 5 lên đến 1,2
tỷ USD để cải thiện dự trữ ngoại tệ, tăng sức mạnh của quốc gia- một
động thái mà từ giữa năm 2008 đến trước tháng 5/2011 chưa thực hiện
được.
Động thái đưa tiền ra mua ngoại tệ còn góp
phần cải thiện thanh khoản cho các ngân hàng thương mại, tạo tiền đề để
giảm lãi suất cho vay,… Điều quan trọng là sau động thái mua vào ngoại
tệ như trên, nhưng tỷ giá vẫn ổn định, tốc độ tăng giá tiêu dùng tháng
sau so với tháng trước của tháng 5 đã thấp hơn của tháng 4, báo hiệu xu
hướng tiếp tục tăng chậm lại trong các tháng tới.
Một
kết quả khác là nhờ thị trường ngoại tệ ổn định, đã góp phần ổn định
thị trường vàng. Giá vàng đã giảm từ đỉnh điểm 38,5 triệu đồng/lượng,
xuống dưới 37,9 triệu đồng/lượng, mặc dù giá vàng thế giới đã mấy lần
liên tiếp vượt hết đỉnh điểm này tới đỉnh điểm khác; giá vàng trong nước
đã chuyển từ chỗ thường xuyên cao hơn giá vàng thế giới sang chỗ thường
xuyên thấp hơn giá vàng thế giới; Việt Nam không phải nhập khẩu vàng để
ổn định thị trường vàng trong nước, góp phần kiềm chế nhập siêu.
Kết
quả tổng quát của việc ổn định thị trường ngoại tệ là góp phần vào
việc chống đô la hóa, vàng hóa nền kinh tế, góp phần vào việc ổn định
tâm lý, tạo tiền đề thực hiện việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, củng cố và nâng cao lòng tin vào đồng tiền quốc gia.
Nguyên nhân chủ yếu và những vấn đề đặt ra
Đạt
được những kết quả trên do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do Ngân
hàng Nhà nước đã chọn đúng vấn đề tỷ giá - một huyệt quan trọng của nền
kinh tế, vừa có thể chống tình trạng đô la hóa, vàng hóa, liên quan đến
xuất nhập khẩu, liên quan đến nợ quốc gia, liên quan đến nhập khẩu lạm
phát và khuếch đại lạm phát trong nước, liên quan đến lòng tin đối với
đồng tiền quốc gia. Có nguyên nhân do Ngân hàng Nhà nước đã liên tục,
dồn dập, kiên trì đưa ra nhiều giải pháp theo cùng một định hướng. Đây
là hiện tượng hiếm thấy lâu nay và hiếm thấy so với các ngành, lĩnh vực
khác. Trong các giải pháp trên, đáng chú ý là những giải pháp sau đây.
Một,
Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp Bộ Công an, các cơ quan chức năng ở
Trung ương và địa phương tiến hành kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm
của các điểm giao dịch, niêm yết giá bằng ngoại tệ, các điểm mua bán
ngoại tệ trái phép.
Hai, Ngân hàng Nhà nước đã hai lần nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngoại tệ.
Ba,
Ngân hàng Nhà nước đã hai lần hạ trần lãi suất huy động tiền gửi đô la
đối với tổ chức, cá nhân, tạo ra chênh lệch lớn hơn giữa lãi suất huy
động ngoại tệ và nội tệ, tạo tiền đề để chuyển việc gửi/cho vay bằng
ngoại tệ sang việc mua/bán đứt đoạn ngoại tệ, tạo điều kiện cho việc
chuyển từ gửi/cho vay bằng ngoại tệ sang việc gửi/ cho vay bằng nội tệ.
Bốn,
Ngân hàng Nhà nước đã mấy lần có giải pháp “vượt trước ngăn chặn”. Lần
thứ nhất vào 11/2, đứng trước sức ép tăng tỷ giá, đứng trước chênh lệch
tỷ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức rất lớn, đã quyết
định điều chỉnh tỷ giá tăng với tốc độ cao nhất so với các lần điều
chỉnh trước đây. Kết quả, chênh lệch tỷ giá đã giảm, góp phần kéo thị
trường ngoại tệ tự do bị thu hẹp theo. Tháng trước, Ngân hàng Nhà nước
đã có những động thái tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ, hạ trần lãi
suất huy động ngoại tệ, trước khi đưa một lượng tương đối lớn tiền đồng
ra để mua ngoại tệ. Động thái này đã tạo điều kiện vừa tranh thủ thời cơ
để tăng dự trữ ngoại tệ, cải thiện tính thanh khoản tiền đồng cho các
ngân hàng thương mại, tạo điều kiện để hạ lãi suất cho vay,…, trong khi
tỷ giá vẫn cơ bản giữ được ổn định.
Tuy đạt được
những kết quả tích cực, nhưng chưa thể chủ quan, thỏa mãn, bởi
thị trường ngoại tệ còn đứng trước những thách thức không nhỏ.
Nhập
siêu liên tục tăng lên trong các tháng đầu năm, tạo sức ép lên tỷ giá
về hai mặt. Một mặt nó làm cho cán cân thương mại, cán cân thanh toán bị
mất cân đối. Mặt khác, nguyên nhân nhập siêu có nhiều, chủ yếu do tính
gia công, do cơ cấu sản xuất, xuất khẩu chậm chuyển đổi, công nghiệp hỗ
trợ chậm phát triển, do hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm sản xuất
trong nước còn thấp,…; nhưng việc khắc phục nó làm cho nhiều người
thường nghĩ ngay đến việc tăng tỷ giá để chặn lại, mà không thấy phải có
giải pháp tác động đến các yếu tố đã nói ở trên.
Nguồn
cung ngoại tệ vào nước ta trong năm nay từ nguồn đầu tư trực
tiếp nước ngoài trong 5 tháng giảm; từ nguồn kiều hối sẽ khó tăng cao
như năm trước; từ nguồn đầu tư gián tiếp, từ nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức, từ chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam có thể tăng,
nhưng không cao.
Tốc độ tăng CPI đã chậm lại,
nhưng vẫn còn cao, nên tâm lý lạm phát vẫn còn, người có vốn vẫn còn kỳ
vọng vào các nơi trú ẩn an toàn, trong đó có ngoại tệ, trong khi thị
trường vàng trầm lắng, giá bất động sản có xu hướng giảm.
Mặc
dù đã có bài học về “vượt trước ngăn chặn” khi mua ngoại tệ, nhưng vẫn
cần đặc biệt quan tâm đến biện pháp trung hòa, đến việc thu hồi đủ và
kịp thời lượng tiền đồng đã đưa ra mua ngoại tệ để tránh gây áp lực đến
lạm phát, đến tăng tỷ giá.